Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2019

Cách nào quản lý bệnh Parkinson

nguyên do và triệu chứng của bệnh Parkinson

nguyên do của Parkinson vẫn chưa được xác định vững chắc nhưng từ lâu đã có giả thuyết cho rằng việc xúc tiếp với các yếu tố nguy cơ từ môi trường có thể là một duyên cớ quan trọng, cùng với các nguyên tố di truyền. Các nghiên cứu cho thấy tuổi khởi phát rất quan trọng và phát khởi sau 50 tuổi ít có khả năng bị ảnh hưởng bởi di truyền. Hút thuốc lá, cà phê và rượu có thể gây ra những ảnh hưởng bất lợi tới sự tiến triển củaParkinson, trong khi hoạt động thể chất đã được chứng minh là đem lại nhiều lợi. trong việc làm giảm các triệu chứng ở những bệnh nhân tham gia chương trình “PD Warrior” (phương pháp tập thể dục được thiết kế để giúp các bệnh nhân mắc Parkinson cải thiện cuộc sống).

Các triệu chứng cổ điển của Parkinson bao gồm các vấn đề về dây thần kinh vận động, chẳng hạn như nhịp tim chậm, căng cứng, run khi nghỉ và mất ổn định phong thái. Ngoài ra còn có các triệu chứng không liên can tới dây thần kinh vận động, như trầm cảm, suy giảm nhận thức, đớn đau và rối loạn mất tự chủ cũng thường xuất hiện và chúng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

Các triệu chứng ảnh hưởng đến vận động đẵn là do sự mất dần các tế bào tâm thần dopaminergic trong vùng chất đen, điều này làm giảm lượng dopaminergic vào vùng thượng thận và các vùng não khác. Cũng có bằng chứng trực tiếp cho thấy bệnh Parkinson phát triển từ đường tiêu hóa (GI) đến khu vực não bộ ở những động vật gặm nhấm. Điều này cho thấy vai trò của đường ruột trong điều trị bệnh.Người ta cho rằng dạ dày và hoạt động nhai nuốt là hai vấn đề chính trong liệu pháp điều trị Parkinson, đây là nguyên cớ dẫn đến việc sử dụng các liệu pháp điều trị dùng thuốc không qua đường uống.

Parkinsonrất khó chẩn đoán, vì bệnh nhân thường miêu tả tình trạng bệnh theo nhiều cách khác nhau và không có sẵn các xét nghiệm chẩn đoán cụ thể. Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng chẩn đoán Parkinson trong cộng đồng là không chính xác ở khoảng 50% bệnh nhân, trong đó có tới 25% bệnh nhân tại các phòng khám coi sóc tổng quát.

Nếu nghi ngờ mắc Parkinson, bệnh nhân nên được điều trị chóng vánh với bác sĩ chuyên khoa có chuyên môn về chẩn đoán phân biệt tình trạng bệnh.

Sau khi chẩn đoán Parkinson chính thức được đưa ra, bệnh nhân cần được rà soát trực tính theo chu kỳ 6-12 tháng và nếu các đặc điểm lâm sàng không tiêu biểu phát triển, chẩn đoán cần được xem xét lại.

Thuốc an thần là duyên do phổ thông nhất gây ra các triệu chứng của bệnh Parkinson do thuốc.Các thuốc an thần không điển hình (tỉ dụ quetiapine và clozapine) là những tuyển lựa tốt nhất với bệnh nhân Parkinson để điều trị ảo giác vànên thận trọng để tránh lầm lẫn trong dùng. Metoclopramide và prochlorperazine nên tránh, còn domperidone, cyclizine và ondansetron là những phương pháp điều trị tốt hơn để kiểm soát buồn nôn và nôn với những bệnh nhân mắc Parkinson. Ngoài ra, cần thận trọng khi kê đơn thuốc chống dị ứng, thuốc chống trầm cảm, thuốc chống loạn thần và thuốc chống tăng huyết áp với bệnh nhân mắc Parkinson - đặc biệt là các thuốc chẹn kênh canxi flunarizine và cinnarizine - quơ các nhóm thuốc này cần được theo dõi cẩn thận.

Cách quản lý Parkinson

Trước khi bắt đầu bất kỳ phương pháp điều trị nào, các chuyên gia cần phải đàm đạo với bệnh nhân về tình trạng lâm sàng riêng của từng người (tỉ dụ: triệu chứng và bệnh đi kèm). thị hiếu lối sống của họ cũng rất quan yếu, thí dụ những người làm việc toàn thời kì thường thích có chế độ dùng thuốc mỗi càng ngày càng lần nếu có thể. Vì tất tật các loại thuốc điều trị Parkinson đều có tác dụng phụ, hiện không có thuốc bảo vệ tâm thần, vậy nên chỉ bắt đầu điều trị khi chất lượng cuộc sống người bệnh thực thụ bị ảnh hưởng và nên bàn thảo trước về ích lợi và tác dụng phụ của các nhóm thuốc này với bệnh nhân.

Điều trị bằng thuốc

Một chất đồng vận dopamine, levodopa hoặc chất ức chế monoamin oxydase-B có thể được dùng cho người bệnh trong giai đoạn đầu của Parkinson mà các triệu chứng vận động không ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.

Levodopa là phương pháp điều trị tiêu chuẩn vàng khi các bệnh chứng vận động ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, nhưng sau 7-10 năm tiến triển bệnh, tác dụng của levodopa có thể suy giảm và do đó kém hiệu quả hơn trong việc kiểm soát các triệu chứng vận động. Dược sĩ và các chuyên gia coi ngó sức khỏe nên lưu ý rằng bệnh nhân mắc Parkinson có thể gặp khó khăn do các vấn đề về đường ruột và nước bọt. Rối loạn tiêu hoá là một bệnh chứng thường xuyên trong Parkinson và tồn tại trong vớ các thời đoạn của bệnh, cũng như chứng khó nuốt, liệt dạ dày và táo bón. Xác nhận bị liệt bao tử là rất quan trọng vì nó ảnh hưởng tới sự kết nạp và tác dụng của levodopa. Ngoài ra còn có chứng cớ về sự phát triển quá mức của vi khuẩn đường ruột nhỏ trong Parkinson, nguyên nhân chưa được biết và điều này làm suy giảm sự tiếp thu của levodopa, ảnh hưởng đáng kể đếnđáp ứng thuốc. Vì những lý do này, các liệu pháp không dùng đường uống tỏ ra rất bổ ích trong điều trị Parkinson.

ắt các loại thuốc dopaminergic có khả năng gây ra rối loạn kiểm soát ham muốn và ảo giác. Thuốc đồng vận dopamine có nguy cơ rối loạn kiểm soát ham muốn cao nhất, buồn ngủ quá mức và các triệu chứng loạn thần (tỉ dụ ảo giác hoặc hoang tưởng). Rối loạn kiểm soát ham muốn có thể bao gồm bài bạc nép, cuồng dâm, ám ảnh ăn uống và mua sắm. Điều quan trọng là bệnh nhân có được một người tương trợ (tỉ dụ: dược sĩ chuyên khoa hoặc y tá chuyên khoa có liên tưởng đến việc chăm sóc họ) nếu bất kỳ rối loạn kiểm soát thèm muốn nào phát triển. Quản lý các rối loạn kiểm soát can dự đến việc hiệu chỉnh liệu pháp dopaminergic bằng cách giảm dần liều bất kỳ chất đồng vận dopamine nào. Nếu điều chỉnh này không đem lại hiệu quả, liệu pháp hành vi nhận thức có thể được chuyên gia dùng. Điều quan trọng là bệnh nhân và người săn sóc hoặc thành viên gia đình phải được cung cấp đầy đủ thông tin phê chuẩn việc trò chuyện trực tiếp và giấy má liên tưởng về các rối loạn kiểm soát thèm muốn khi bắt đầu điều trị bằng thuốc đồng vận dopamine và tình trạng bệnh nên được bàn bạc tại các cuộc thăm khám.

Các chất đồng vận dopamine có nguồn gốc từ thảo dược ergot (ví dụ pergolide, bromocriptine và cabergoline) chỉ nên được dùng như một thuốc bổ sung cho levodopa với những người mắc Parkinson bị rối loạn vận động dù rằng điều trị levodopa đã được tối ưu và có đáp ứng không tốt với chất đồng vận không có cội nguồn từ ergot(ví dụ: ropinirole, pramipexole và rotigotine miếng dán). Tuy nhiên, các chất đồng vận dopamine có nguồn cội từ ergot có can dự đến các tác dụng phụ nghiêm trọng gây xơ hóa nên bây giờ đã hạn chế sử dụng. Các chất đồng vận không có cội nguồn từ ergot (ví dụ: ropinirole và pramipexole) có lợi thế là chúng có thể chỉ cần sử dụng một lần mỗi ngày, tuy nhiên, cần cẩn trọng khi kê đơn. ắt các đơn thuốc đồng vận dopamine nên được điều chỉnh để ngăn ngừa các triệu chứng do cai dopamine.

Cũng như việc dùng các thuốc đồng vận dopamine, những bệnh nhân mắc Parkinson có tiền sử về mất kiểm soát hành vi hoặc uống rượu và/hoặc hút thuốc có nguy cơ phát triển các rối loạn kiểm soát ham muốn.

Điều trị bằng thuốc thay thế

Một chất đồng vận dopamine, chất ức chế monoamin oxydase-B hoặc chất ức chế catechol-O-methyltransferase có thể được dùng như một chất bổ sung cho levodopa với những bệnh nhân Parkinson mắc chứng rối loạn vận động, mặc dù điều trị với levodopa tối ưu (xem Bảng 3). Nếu chứng rối loạn vận động không được quản lý tốt bằng cách thay đổi các liệu pháp hiện có, amantadine thường được sử dụng trong thực tại, mặc dù bằng chứng lâm sàng hiện có về việc dùng thuốc này vẫn còn nhiều hạn chế.

Tầm quan trọng của kết hợp liên ngành

Hướng dẫn cập nhật của Viện Y tế và Chất lượng Điều trị Quốc gia (NICE) khẳng định tầm quan trọng của việc phối hợp nhiều lĩnh vực khi quản lý Parkinson, với sự tham gia của các chuyên viên trị liệu được đào tạo để quản lý tình trạng bệnh, thí dụ như vật lý trị liệu, liệu pháp nghề, trị liệu tiếng nói và trị liệu dinh dưỡng. Ngoài ra, NICE đã khuyến nghị nghiên cứu sâu hơn nhằm xác định xem áp dụng vật lý trị liệu sớm hơn trong quá trình điều trị Parkinson, thay vì khởi phát các vấn đề vận động mới điều trị, có mang lại ích lợi tốt trong việc trì hoãn thời kì khởi phát và/hoặc giảm mức độ nghiêm trọng của triệu chứng không.

Vai trò của dược sĩ

Xét về độ tuổi phát khởi các triệu chứng của Parkinson, bệnh nhân thường mắc một số bệnh đi kèm (thí dụ như tiểu đường, bệnh tim mạch, tăng huyết áp, suyễn hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính), và các dược sĩ cần luôn chuẩn bị sẵn sàng quản lý bệnh nhân một cách toàn diện và tham mưu về mọi khả năng tương tác thuốc có thể xảy ra. Điều này đã được chứng minh trong một nghiên cứu gần đây liên quan đến một thí nghiệm đánh giá sử dụng việc thuốc Parkinson đặc hiệu tại 8 nhà thuốc ở Luân Đôn. Trong thí nghiệm, bệnh nhân mong muốn được luận bàn với dược sĩ về thuốc mà họ sử dụng, đặc biệt là các vấn đề với các triệu chứng không liên hệ đến vận động, thông báo thuốc và cách hoạt động của chúng.

Trong một hoạt động kiểm toán tại địa phương đối với bệnh nhân Parkinson ở Dudley, Vương quốc Anh năm 2015 đã xác định thuốc là lĩnh vực mà bệnh nhân quan hoài nhất (dữ liệu chưa được ban bố). Hơn nữa, tác giả đã nhận được những đánh giá khôn cùng tích cực từ bệnh nhân do các dược sĩ đứng đầu các chuyên khoa về Parkinsoncung cấp, minh họa cho mức độ ưng của bệnh nhân khi các dược sĩ tham gia và việc quản lý Parkinson.

Dược sĩ cộng đồng, những người thường có mối quan hệ tốt với các bệnh nhân của họ và có thể dễ dàng tiếp cận, cũng như dược sĩ địa phương trong tuốt các chuyên khoa cần là những người ủng hộ bệnh nhân chống lại Parkinson. Hơn nữa, họ được xếp đặt hợp lý để đảm bảo rằng các bệnh nhân Parkinson hiểu được tầm quan yếu của thuốc và bệnh nhân sẽ dùng thuốc đúng giờ theo chiến dịch “dùng thuốc đúng giờ”cho bệnh nhân Parkinson tại Vương quốc Anh.

Bệnh nhân mắc Parkinson có chế độ dùng thuốc phức tạp, khiến sự tương trợ của dược sĩ là điều cần yếu. Tuy nhiên, vẫn cần có nhiều hơn các nghiên cứu về vai trò của dược sĩ trong việc quản lý Parkinson.

Quản lý Parkinson tiến triển

Kĩ thuật kích thích não sâu có thể được xem xét cho những bênh nhân Parkinson tiến triển nhưng chỉ khi các triệu chứng không được kiểm soát bằng liệu pháp y tế, có thể bao gồm tiêm apomorphin không liên tiếp hoặc tiêm truyền dưới da liên tục.

Kết luận

nguyên do của Parkinson không được hiểu đầy đủ và điều trị triệu chứng là cần thiết. Khi các Hướng dẫn điều trị của NICE được cập nhật, cần xem xét vai trò của dược sĩ trong việc quản lý Parkinson. Điều quan yếu là phải xây dựng một cơ sở bằng chứng để xác định vai trò của dược sĩ quan yếu như thế nào đối với bệnh nhân Parkinson. Nhiều người trong số những bệnh nhân Parkinson được chỉ định một chế độ dùng thuốc rất phức tạp và do đó, một cuộc tư vấn với chuyên gia săn sóc sức khỏe có thể là hết sức giá trị đối với họ.

DS.Trần Ngọc Thịnh

( pharmaceutical )

0 nhận xét:

Đăng nhận xét